Trà Vinh quan tâm thực hiện chính sách phát triển toàn diện vùng đồng bào Khmer
     Trà Vinh là tỉnh thuộc khu vực đồng bằng sông Cửu Long, có 65 km bờ biển, diện tích tự nhiên là 2.341 km2, trong đó đất nông nghiệp chiếm 79,4%. Toàn tỉnh có 07 huyện, 01 thị xã, 01 thành phố; 106 xã, phường, thị trấn; 815 ấp, khóm. Dân số toàn tỉnh có trên 01 triệu người với 275.817 hộ dân cư (khu vực thành thị có 41.481 hộ, khu vực nông thôn có 234.336 hộ), với 03 dân tộc chính là Kinh, Khmer, Hoa, trong đó dân tộc Khmer có 329.662 người (89.429 hộ), chiếm 31,53%, dân tộc Hoa chiếm gần 01% và một số ít người Chăm, Ấn; có 59 xã, phường, thị trấn có trên 20% đồng bào dân tộc Khmer sinh sống.
Đồng bào Khmer đa số sống ở nông thôn, với đức tính cần cù lao động, ngành nghề chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và một số ít sinh sống bằng nghề đan đát, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ thương mại. Đại đa số đồng bào Khmer theo Phật giáo Nam tông Khmer, các hoạt động lễ hội truyền thống, phong tục tập quán được bảo tồn và phát huy. Toàn tỉnh có 143 chùa Khmer với 3.371 vị sư, tỉnh có MêKone, Hội Đoàn kết sư sãi yêu nước từ tỉnh đến huyện và các xã, phường, thị trấn có chi hội, đã tích cực tham gia công tác xã hội, từ thiện, giáo dục và vận động các chư tăng, Ban quản trị, tín đồ phật tử chấp hành tốt chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, hoạt động đúng tôn chỉ mục đích và điều lệ của Hội, thực hiện tốt phương châm “Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội”.

     Nhiều năm qua, Ban Bí thư đã ban hành các nghị quyết, chỉ thị liên quan đến đồng bào dân tộc thiểu số như: Chỉ thị số 68-CT/TW ngày 18/4/1991 của Ban Bí thư về công tác ở vùng đồng bào dân tộc Khmer; Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 12/3/2003 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) về công tác dân tộc; Chỉ thị số 19-CT/TW ngày 10/01/2018 của Ban Bí thư về tăng cường công tác ở vùng đồng bào Khmer trong tình hình mới.  

    Quán triệt các nghị quyết, chỉ thị nêu trên, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Trà Vinh đã ban hành các nghị quyết, chỉ thị, kế hoạch, kết luận để triển khai thực hiện trong vùng dân tộc thiểu số của tỉnh như: Nghị quyết số 01-NQ/TU ngày 13/10/1992 về công tác trong vùng đồng bào dân tộc Khmer; Kế hoạch số 02-KH/TU ngày 15/7/1996 về triển khai thực hiện Chỉ thị số 62-CT/TW của Ban Bí thư; Chỉ thị số 04-CT/TU ngày 08/10/2002 về tăng cường công tác phát triển đảng viên là người dân tộc Khmer, Hoa; Chương trình hành động số 17-CTr/TU, ngày 09/6/2003 triển khai thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 12/3/2003 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) về công tác dân tộc; Nghị quyết số 06-NQ/TU ngày 10/10/2003 về phát triển toàn diện vùng đồng bào Khmer; Nghị quyết số 03-NQ/TU ngày 09/9/2011 về phát triển toàn diện vùng đồng bào Khmer giai đoạn 2011 - 2015; Kết luận số 01-KL/TU ngày 16/6/2016 về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 03-NQ/TU; Kế hoạch số 81-KH/TU ngày 23/4/2018 về thực hiện Chỉ thị số 19-CT/TW của Ban Bí thư. 

    Qua đó, các cấp, các ngành tổ chức triển khai quán triệt cho cán bộ chủ chốt cấp tỉnh, cấp huyện; triển khai sâu rộng trong cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên, chức sắc tôn giáo, người có uy tín và tầng lớp Nhân dân trong tỉnh quán triệt và nhận thức sâu sắc quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc. Kết quả, từ năm 2016 - 2018, tổ chức trên 15.000 cuộc, có khoảng 1.321.000 lượt người dự. Đồng thời, xây dựng Kế hoạch, đề án cụ thể, tổ chức thực hiện đạt được những kết quả tích cực, như sau:

* Về lĩnh vực kinh tế
    Những năm qua, được sự quan tâm đầu tư, hỗ trợ các chương trình, chính sách, dự án của Chính phủ, của tỉnh ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số đã và đang mang lại hiệu quả thiết thực trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, giáo dục, y tế, văn hoá, xã hội; đã giải quyết một phần nhu cầu bức thiết về cơ sở hạ tầng ở các xã đặc biệt khó khăn; hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số phát triển sản xuất; nâng cao ý thức cộng đồng, tương thân, tương ái, ý thức tự lực vươn lên; đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào dân tộc được nâng lên, bộ mặt nông thôn ngày càng khởi sắc, xuất hiện nhiều tấm gương tập thể, cá nhân điển hình tiêu biểu trong vượt khó vươn lên phát triển kinh tế xã hội, góp phần thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững.


Ảnh: Công trình đường nhựa được đầu tư từ Chương trình 135

      Sản xuất trong vùng đồng bào Khmer có bước phát triển, các mô hình sản xuất lúa kênh bê tông nổi xã Phú Cần, mô hình cánh đồng lớn xã Tập Ngãi, Châu Điền, vùng sản xuất lúa chất lượng cao ở xã Nhị Trường, Trường Thọ, vùng chuyên canh ràu màu huyện Châu Thành, mô hình nuôi heo thịt, bò sinh sản, gà thịt sử dụng đệm lót sinh học, phát triển nhiều làng nghề như bánh tét Trà Cuôn ở xã Kim Hòa, làng nghề cốm dẹp Ba So, xã Nhị Trường, làng nghề dệt chiếu xã Hàm Giang, nhiều tổ hợp tác, hợp tác xã trong vùng đồng bào dân tộc hoạt động có hiệu quả, góp phần giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân tại địa phương.

   Kinh tế của tỉnh không ngừng phát triển, mức tăng trưởng bình quân giai đoạn 2016 - 2018 tăng 11,27%, thu nhập bình quân năm 2018 đạt 43,65 triệu đồng/người. Công tác khuyến nông, khuyến ngư được tăng cường, đẩy mạnh; tập trung chuyển đổi cơ cấu sản xuất, giống cây trồng, vật nuôi có năng suất, chất lượng cao, thích ứng biến đổi khí hậu; ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, nhiều mô hình sản xuất trong đồng bào dân tộc Khmer đạt hiệu quả kinh tế cao; nhiều tổ hợp tác, hợp tác xã hoạt động có hiệu quả.

   Các chương trình, chính sách giảm nghèo được triển khai đồng bộ và có hiệu quả đã góp phần thực hiện mục tiêu giảm nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số đạt kết quả đáng kể, trong 03 năm (2016-2019) tỷ lệ hộ nghèo dân tộc thiểu số đã giảm 11,58 % (Đầu năm 2016 tỷ lệ hộ nghèo dân tộc thiểu số là 22,62% (19.782 hộ) đến cuối năm 2018 giảm còn 11,04 % (10.090 hộ), bình quân mỗi năm giảm 3,86 %, tương đương 3.230 hộ).

* Về văn hóa - xã hội
   Các phong tục tập quán, lễ hội truyền thống của các dân tộc thiểu số luôn được giữ gìn và phát huy. Toàn tỉnh có 39 di tích được công nhận (14 di tích cấp quốc gia và 25 di tích cấp tỉnh), 87 đội dàn nhạc ngũ âm, 95 đội trống Chhay Dam, 35 đội múa chằn, 40 đội bóng chuyền và 08 đội ghe Ngo, 03 di tích phi vật thể cấp quốc gia, 01 Nhà bảo tàng trưng bày hơn 1.000 hiện vật thể hiện văn hóa ẩm thực, trang phục truyền thống, lao động sản xuất, tín ngưỡng tâm linh, phong tục tập quán và truyền thống đoàn kết đấu tranh của Nhân dân tỉnh Trà Vinh.

   Các cấp ủy và chính quyền luôn tạo mọi điều kiện để đồng bào và chư tăng Khmer giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, bảo tồn văn hóa vật thể, phi vật thể. Các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao được tổ chức vào các dịp lễ, tết cổ truyền của đồng bào dân tộc như: Chol Chnam Thmây, Sêne đôlta, Ok Om Bok, ,.. diễn ra sôi nổi, tạo không khí vui tươi phấn khởi trong tầng lớp Nhân dân, góp phần giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa của đồng bào dân tộc. Tỉnh có chương trình tiếng Khmer phát trên Đài Phát thanh truyền hình Trà Vinh, Đoàn nghệ thuật Khmer Ánh Bình Minh biểu diễn các tiết mục ca múa nhạc dân tộc, trình diễn nhạc cụ dân tộc,.. mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc đáp ứng nhu cầu thưởng thức của quần chúng Nhân dân; hàng năm, tổ chức in và phát hành 02 số nội san văn hóa bằng chữ Khmer, với số lượng 2.400 bản.

* Về lĩnh vực giáo dục
Công tác đào tạo nhân lực, nâng cao dân trí trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số được các ngành, các cấp quan tâm thực hiện; mạng lưới trường lớp, cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ dạy học ở các trường được tăng cường đầu tư xây dựng, góp phần đào tạo nâng cao dân trí trong đồng bào dân tộc. Các xã trong vùng có đông đồng bào dân tộc Khmer có trường mẫu giáo đạt tỷ lệ 100%. Việc dạy và học chữ Khmer được duy trì và phát triển, toàn tỉnh có 121 điểm trường dạy học tiếng Khmer, với 18.520 học sinh; có 134/143 chùa tổ chức dạy học chữ Khmer dịp hè, với 16.736 học sinh. Tỷ lệ học sinh dân tộc thiểu số bỏ học giảm. Thực hiện tốt việc hỗ trợ học sinh và trường phổ thông ở xã, ấp đặc biệt khó khăn theo Nghị định số 116/2016/NĐ-CP ngày 18/7/2016 của Chính phủ đã hỗ trợ gạo cho 1.475 học sinh thuộc 40 trường tiểu học, trung học sơ sở và trung học phổ thông với 110.400 kg gạo. Ngoài ra, từ năm 2016 đến nay, tỉnh đã phân công công tác cho 48/64 sinh viên đào tạo theo chế độ cử tuyển, hỗ trợ cho giáo viên dạy chữ Khmer ở 134/143 điểm chùa trong các dịp hè theo quy định, với kinh phí 7.637,69 triệu đồng.

* Về lĩnh vực y tế
   Công tác chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho Nhân dân ngày càng được quan tâm, trang thiết bị y tế, mạng lưới khám chữa bệnh được đầu tư nâng cấp, chất lượng khám và điều trị bệnh được nâng lên, đội ngũ cán bộ y tế từng bước được củng cố, hầu hết các trạm y tế trong vùng có đông đồng bào dân tộc Khmer có bác sĩ phục vụ khám chữa bệnh. Toàn tỉnh có 127 cơ sở khám, chữa bệnh; có 750 bác sĩ (265 người dân tộc Khmer); 453 y sĩ (146 người dân tộc Khmer); 769 điều dưỡng (188 người dân tộc Khmer); có 101/106 trạm y tế cấp xã đạt chuẩn quốc gia, chiếm tỷ lệ 93,45%; tỷ lệ số dân tham gia bảo hiểm y tế đạt 95,54%; hỗ trợ 755 đối tượng là phụ nữ thuộc hộ nghèo là người dân tộc thiểu số theo Nghị định số 39/2015/NĐ-CP ngày 27/4/2015 của Chính phủ quy định chính sách hỗ trợ cho phụ nữ thuộc hộ nghèo là người dân tộc thiểu số khi sinh con đúng chính sách dân số, số tiền 1.510 triệu đồng.

* Thực hiện chính sách tôn giáo

   Trong sinh hoạt tôn giáo, cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, ban, ngành, đoàn thể luôn quan tâm và tạo điều kiện cho các vị chức sắc được thuyên chuyển, suy cử theo giáo luật, đi học trong và ngoài nước, tạo điều kiện cho các chùa Khmer được nhập sách kinh Tam Tạng; hỗ trợ kinh phí cho các chùa Phật giáo Nam tông Khmer xây dựng mới hoặc sửa chữa chánh điện, trai đường,... phát huy tốt việc xây dựng chùa vừa là nơi tu học, hành đạo, vừa là trung tâm tổ chức các hoạt động văn hóa, lễ hội theo phong tục tập quán, vừa là nơi phổ biến các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, phổ biến các tiến bộ khoa học - kỹ thuật, các mô hình sản xuất, kinh doanh, tạo điều kiện cho các chư tăng tham gia các hoạt động xã hội từ thiện.

* Xây dựng hệ thống chính trị và Quốc phòng, an ninh
   Hệ thống chính trị trong vùng đồng bào dân tộc từng bước được củng cố; hiệu lực quản lý, năng lực điều hành ngày càng được nâng lên. Công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng cán bộ, công chức, viên chức và công tác phát triển đảng viên trong đồng bào Khmer luôn được cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội các cấp quan tâm.

   Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trong vùng đồng bào Khmer cơ bản ổn định, mối quan hệ đoàn kết gắn bó giữa các dân tộc được giữ vững; đồng thời, thực hiện tốt nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội gắn với đảm bảo quốc phòng - an ninh.

   Nhìn chung, với sự quyết tâm nỗ lực của các ngành, các cấp và sự đồng tình hưởng ứng của đồng bào dân tộc thiểu số đã tổ chức triển khai thực hiện tốt các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về công tác dân tộc, chính sách dân tộc, kinh tế - xã hội của tỉnh tiếp tục ổn định và phát triển; các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước ban hành phù hợp với thực tiễn, kết cấu hạ tầng vùng đồng bào dân tộc Khmer được đầu tư; cơ sở vật chất văn hóa, giáo dục, y tế tiếp tục được đầu tư xây dựng, hệ thống chính trị vùng đồng bào dân tộc Khmer được củng cố; công tác đào tạo, quy hoạch, quản lý, sử dụng đội ngũ cán bộ dân tộc Khmer được quan tâm.

   Bên cạnh những kết quả đạt được, kinh tế - xã hội vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số vẫn còn chuyển biến chậm. Tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn cao so với tổng số hộ nghèo trong tỉnh. Hạ tầng kinh tế - xã hội được quan tâm đầu tư, nhưng một số công trình chậm phát huy hiệu quả sử dụng; việc ứng dụng khoa học kỹ thuật cho sản xuất chưa nhiều; huy động nội lực trong Nhân dân đóng góp, đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng nông thôn với tỷ lệ thấp. Một số nơi có đề ra giải pháp tổ chức lại sản xuất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi… trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số nhưng hiệu quả chưa cao..

   Để thực hiện tốt chính sách vùng dân tộc thiểu số, trong thời gian tới, thiết nghĩ các cấp các ngành cần quan tâm thực hiện tốt một số nhiệm vụ sau:

 - Tiếp tục quán triệt, triển khai thực hiện đầy đủ, nghiêm túc Kết luận số 01-KL/TU, ngày 16/6/2016 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tiếp tục thực hiện Nghị quyết 03 của Tỉnh ủy (khóa IX) về phát triển toàn diện vùng đồng bào Khmer giai đoạn 2011 - 2015 gắn với các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước liên quan đến đồng bào dân tộc, nhằm tạo được sự chuyển biến nhanh, toàn diện.

- Thực hiện tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi phù hợp với điều kiện của địa phương và tình hình biến đổi khí hậu ở vùng có đông đồng bào dân tộc Khmer; đồng thời, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, xây dựng tổ kinh tế hợp tác, hợp tác xã kiểu mới, liên kết các doanh nghiệp đầu tư đầu vào, tạo đầu ra cho sản phẩm nông nghiệp.

- Tăng cường công tác phối hợp giữa các cấp, các ngành trong chỉ đạo thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia và các chính sách an sinh xã hội; quan tâm hỗ trợ đào tạo học nghề gắn với giải quyết việc làm; nâng cao chất lượng đào tạo nghề.

- Ưu tiên tập trung các nguồn lực để thực hiện đồng bộ các chương trình, chính sách ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, vùng có đông đồng bào dân tộc Khmer sinh sống.

- Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc tiếp cận các chính sách, dịch vụ xã hội trợ giúp cho đồng bào; các chương trình, dự án và chính sách hỗ trợ người nghèo nhằm đảm bảo đầu tư có hiệu quả, đúng đối tượng, đúng mục đích, tránh tình trạng bình quân, dàn trải, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

- Thực hiện tốt Chỉ thị số 19-CT/TW ngày 10/01/2018 của Ban Bí thư về tăng cường công tác ở vùng đồng bào Khmer trong tình hình mới; Kết luận số 01-KL/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Trà Vinh (Khóa IX) về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 03-NQ/TU ngày 09/9/2011 của Tỉnh ủy Trà Vinh về phát triển toàn diện vùng đồng bào Khmer giai đoạn 2011 – 2015.
- Tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng công tác dân vận của cấp ủy Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội; tăng cường công tác nắm tình hình, sâu sát cơ sở; phát huy tốt vai trò người có uy tín trong vùng đồng bào dân tộc, kịp thời phát hiện, hòa giải, giải quyết các tranh chấp, khiếu kiện tại cơ sở, không để phát sinh những vấn đề phức tạp, vượt cấp, giữ vững ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trong vùng đồng bào Khmer./. 
 
Bài, ảnh: Kim Đạt  






Tin khác
1 2 3 4 5  ... 





Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 5
  • Trong tuần: 268
  • Tất cả: 1183472
TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ BAN DÂN TỘC TỈNH TRÀ VINH
- Đơn vị quản lý: Ban Dân tộc tỉnh Trà Vinh
- Địa chỉ: Số 10, đường 19 tháng 5, K2, P1, TPTV, tỉnh Trà Vinh
- Email:bdt@travinh.gov.vn - Điện thoại: 0294.3852478. Fax: 0294.3851924
- Ghi rõ nguồn "Trang thông tin điện tử Ban Dân tộc tỉnh Trà Vinh" khi phát hành lại thông tin từ website này. Designed by VNPT